Thủy sản Bến Tre 40 năm một chặng đường phát triển
Ở Bến Tre, nghề nuôi thủy sản có từ lâu đời nhưng chủ yếu là nuôi cá vùng nước ngọt. Sau đó, nghề nuôi tôm nước ngọt mới hình thành nhưng còn rất đơn giản, chủ yếu là nuôi với hình thức quảng canh.

Năm 1985, nghề nuôi thủy sản có thể tạm gọi là đột phá khi ở Bình Đại đã xây dựng được một ngư trường nuôi 50 ha, chuyển đổi từ nuôi quảng canh sang quảng canh cải tiến với năng suất 400 kg tôm tự nhiên/ha/năm.
Thời kỳ đầu sản lượng khá hấp dẫn do giống tự nhiên còn dồi dào, nhưng đến những năm 1980, nguồn lợi thủy sản cạn kiệt dần, năng suất nuôi giảm đi đáng kể. Từ đó, nguồn giống nhân tạo ra đời và phát triển đầu tiên tại Ba Tri.
Rồi những năm 1990-2000 là thời kỳ khó khăn nhất trong nghề nuôi thủy sản tuy phát triển nhanh nhưng cũng nhiều sóng gió. Từ phương thức thả giống tôm sú sinh sản nhân tạo với tôm tự nhiên có cho ăn thức ăn phát triển mạnh và hiệu quả cao. Hình thức nuôi quảng canh cải tiến bậc cao ra đời, đã khai thác có hiệu quả vùng đất bị nhiễm mặn để nuôi một vụ tôm, trồng một vụ lúa, xây dựng các cơ sở hạ tầng thủy lợi phục vụ nuôi thủy sản.
Thời gian này dịch bệnh xuất hiện làm tôm chết hàng loạt gây thiệt hại nặng nề cho người nuôi tôm biển. Đặc biệt, năm 1999, Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư thực hiện thành công mô hình nuôi tôm sú công nghiệp đạt năng suất 8,9 tấn/ha/vụ tại xã Thạnh Phước, huyện Bình Đại. Đây là tiền đề tạo bước nhảy quan trọng, đột phá mạnh mẽ, cơ sở đề nuôi tôm công nghiệp cho những năm sau này.
Đến năm 2001, nuôi tôm sú công nghiệp bùng phát mạnh mẽ, tác động rất lớn vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Tuy nhiên, do phát triển ồ ạt theo phong trào nên thiếu khoa học kỹ thuật, nhiều đơn vị tập thể, cá nhân thất mùa, thua lỗ nghiệm trọng, phá sản.
Từ đó công tác quy hoạch, điều chỉnh vùng nuôi được đặc biệt quan tâm, chấn chỉnh. Nhiều hình thức nuôi trên nhiều vùng đất khác nhau đã đưa nghề nuôi phát triển ổn định hơn. Năm 2008 đã bắt đầu có nhiều mô hình mới về nuôi tôm thẻ chân trắng xuất hiện, phát triển mạnh cho đến nay.
Cùng với phong trào nuôi tôm biển, nghề nuôi cá da trơn ở các vùng ngọt hóa phát triển mạnh. Từ diện tích chỉ 100 ha năm 2006 đã tăng lên 720 ha năm 2008, năng suất bình quân 350 tấn/ha mặt nước, tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho các nhà máy chế biến xuất khẩu.
Mặt hàng nghêu cũng được xem là nguồn nguyên liệu chủ lực cho chế biến xuất khẩu với sản lượng 16.000 tấn/năm trên diện tích nuôi 4.700 ha ở các vùng bãi bồi ven biển Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú. Tính đến cuối năm 2014, diện tích nuôi thủy sản ổn định 47.200 ha, sản lượng 251.000 tấn.

Nghề khai thác những ngày đầu còn ở trình độ thấp, chủ yếu là khai thác ven bờ, công suất tàu chỉ khoảng 10CV-45CV. Từ năm 1990-2000 nghề khai thác có bước phát triển nhảy vọt đáng kể về năng lực, kỹ thuật, sản lượng.
Tàu đánh bắt xa bờ ban đầu chỉ 30 tàu đến đầu năm 2000 đã có 291 tàu với công suất bình quân tăng lên 195 CV/tàu; sản lượng tăng từ 39.000 tấn lên 61.000 tấn năm 2000. Hiện nay, toàn tỉnh có 3.600 tàu qua đăng ký, trong đó có 1.770 tàu đắnh bắt xa bờ với công suất bình quân 410 CV/tàu; sản lượng khai thác gần 160.000 tấn, tăng 2,5 lần so năm 2000.
Chế biến xuất khẩu tuy không quy mô như nhiều tỉnh trong khu vực nhưng cũng đã có bước phát triển rất đáng ghi nhận. Năm 1978, tỉnh thành lập Nhà máy đông lạnh 22 – nhà máy đông lạnh đầu tiên của tỉnh, chủ yếu chế biến đơn thuần mặt hàng tôm biển thịt, tôm càng xanh nhưng sản lượng thấp, chỉ đạt tối đa 35% công suất.
Năm 1986 bắt đầu xây dựng nhà máy đông lạnh Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú nhưng chỉ sản xuất vài mặt hàng truyền thống, thị trường chưa mở rộng. Từ năm 1986 trở đi, chế biến thủy sản có nhiều biến đổi đáng kể về quy mô, trình độ khoa học công nghệ, thị trường mở rộng.
Năm 1990 Bến Tre có 4 nhà máy với công suất 2.040 tấn/năm và chế biến xuất khẩu được 1.671 tấn, thì năm 2000 cũng với 4 nhà máy nhưng quy mô công suất tăng lên 6.330 tấn/năm; sản lượng chế biến xuất khẩu 3.949 tấn/năm. Nhà máy đông lạnh 22, Nhà máy đông lạnh 84 liên tục thay đổi công nghệ, nhất là khi sự ra đời của Nhà máy chế biến thủy sản Ba Lai với dây chuyền sản xuất hiện đại, công suất 9.0000 tấn/năm, nâng tổng công suất của các nhà máy toàn tỉnh lên 34.000 tấn/năm. Kim ngạch xuất khẩu tăng từ 13 triệu USD năm 2000 lên 65 triệu USD năm 2007. Tuy nhiên, do khó khăn về thị trường, giá trị kim ngạch xuất khẩu hiện chỉ đạt 57 triệu USD, chưa đạt mục tiêu đề ra là 80 triệu USD.
Dự kiến trong 5 năm tới, ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng nuôi thủy sản tập trung, phát triển giống thủy sản, hệ thống cảnh báo và giám sát môi trường, hệ thống quản lý dịch bệnh và thú y thủy sản. Áp dụng công nghệ và quy trình nuôi VietGAP, giữa vững, củng cố chứng nhận MSC con nghêu Bến Tre. Ổn định diện tích nuôi thủy sản 47.000 ha, trong đó tôm biển thâm canh, bán thâm canh 10.000 ha, cá da trơn 800 ha; sản lượng thủy sản đạt 300.000 tấn.
Khuyến khích đầu tư khai thác xa bờ theo mô hình tổ hợp tác sản xuất sử dụng trang thiết bị hiện đại. Dự kiến đến năm 2020 tổng số tàu khai thác là 3.500, trong đó khai thác xa bờ chiếm 57%; sản lượng khai thác đạt 160.000 tấn/năm.
(Bentre.gov.vn)